Lợi thế của ĐBSCL không chỉ ở các ngành nông nghiệp, thủy sản mà còn ở vị thế địa – kinh tế, cho phép phát triển kinh tế biền, hàng hải, thương mại quốc tế. Để khai thác được lợi thế này rất cần có sự đầu tư lớn về vốn và công nghệ.
Sự lớn mạnh của ngành nông nghiệp, thủy sản với nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào, có lợi thế so sánh với các nước, nơi đây đủ kiều kiện trở thành trung tâm chế biến thực phẩm lớn nhất nước tham gia trong chuỗi giá trị tòan cầu.
Điểm hạn chế của vùng là hạ tầng giao thông chưa phát triển, lực lượng lao động chưa qua đào tạo nhiều. Trong khi nhu cầu phát triển vùng đang thúc hối thì đây cũng là cơ hội cho các nhà đầu tư.
Đầu tư khai thác được các thế mạnh, cải thiện điểm yếu sẽ tạo bước đột phá thúc đẩy kinh tế vùng phát triển nhanh chóng. Đến 2008, 2010 các hệ thống hạ tầng giao thông, cảng biển được hoàn thiện thì ĐBSCL sẽ trở thành một cực tăng trưởng mới của Việt Nam.
1. Nhu cầu đầu tư khai thác thế mạnh những sản phẩm đang có
Lúa gạo: là sản phẩm chính của ĐBSCL, sản lượng đã đạt đến 17,5 triệu tấn, nhưng năng suất, chất lượng thấp, công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu… Cần đầu tư nâng cao năng suất, chất lượng, công nghệ chế biến, thu hoạch và tổ chức hệ thống phân phối…
Thủy sản: Sản lượng thủy sản năm 2003 đạt 1,44 triệu tấn (chiếm 52% sản lượng thủy sản cả nước). Hiện nay vấn đề về tiêu chuẩn chất lượng để ngành thủy sản phát triển bền vững được nhiều tổ chức trong và ngoài nước quan tâm.
Tôm: sản lượng nuôi năm 2003 đạt 171 ngàn tấn, trong đó xuất khẩu 60,3 ngàn tấn, nhưng với hình thức nuôi quãng canh năng suất thâp, rủi ro cao, rất cần đầu tư cải thiện hệ htống phân phối, công nghệ nuôi cho năng suất cao hơn và bảo vệ môi trường.
Cá: Sản lượng cá đạt được 844 ngàn tấn, nỗi tiếng với 2 lọai cá xuất khẩu là cá Tra và cá Basa. Nhưng với các lọai cá khác lượng xuất khầu chưa nhiều. Các vấn đề công nghệ nhân giống, quy trình nuôi công nghiệp, công nghệ chế biến, đa dạng cơ cấu sản phẩm, xúc tiến thương hiệu là nhu cầu thu hút đầu tư.
Cây ăn trái: Nổi tiếng với nhiều loại trái cây đặc sản như nhãn, xoài, sầu riêng, măng cụt,vớisản lượng 3 triệu tấn/ năm, nhưng số lượng xuất khẩu được còn ít, do năng suất thấp, thiếu đồng đều về chủng loại, hệ thống canh tác manh mún, kỹ thuật lạc hậu.
Rất cần đầu tư từ hệ thống canh tác, kỹ thuật trồng trọt đến bảo quản, bao gói và chế biến.
Chăn nuôi: Đây là vùng đất thuận lợi chăn nuôi các loại gia súc (heo, bò thịt, bò sữa, gia cầm (gà, vịt), kể cả các loại động vật hoang dã như rắn, cá sấu, baba…
Phát triển ngành này hiện nay cũng đã thúc đẩy nhu cầu các lọai thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi. Các nhà máy đang có trong vùng hiện không đáp ứng đủ. Một phần rất lớn hiện nay là được cung cấp từ ngòai vùng với chi phí vận chuyển cao.
2. Nhu cầu đầu tư các ngành sắt thép, cơ kim khí, máy móc phục vụ nông nghiệp, vật liệu xây dựng, đồ gia dụng, hàng hóa tiêu dùng
Liên doanh thép Tây Đô là một ví dụ thành công về đầu tư vào trong vùng. Mặc dù giá vận chuyển phôi về đây có cao hơn so các nhà máy ở miền Đông, nhưng chi phí vận chuyển thành phẩm thấp hơn so từ ngòai vùng chuyển về.
Nhưng vẫn còn vắng bóng các nhà máy luyện đúc cán thép, sản xuất vật liệu xây dựng, máy móc cơ khí phục vụ nông nghiệp, sản xuất hàng gia dụng, hàng hóa tiêu dùng.
ĐBSCL là vùng nông nghiệp nghiệp lớn nhất nước nhưng năng suất ở ngành này vẫn còn rất thấp, sự dụng nhiều lao động giản đơn
Hiện có 62% lao động làm việc trong khu vực nông thủy sản, trong những năm tới số lao động này sẽ giảm đi để cung cấp cho khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đã xuất hiện tình trạng thiếu hụt lao động trong các tháng, thời vụ cao điểm làm giá nhân công lao động tăng vọt trong ngắn hạn…Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu phải thu hút mạnh đầu tư sản xuất máy móc nông cụ thay cho lao động chân tay trong nông nghiệp, thủy sản chăn nuôi làm muối…
3. Công nghiệp sản xuất chất tẩy rửa, hóa phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm
Đây là ngành công nghiệp có nhiều tiềm năng phát triển, khả năng sinh lợi cao.
Nhưng hầu hết các lọai sản phẩm nói trên được cung cấp từ Tp.HCM, do khó khăn về giao thông mà chi phí vận chuyển rất cao, chưa nói nó cũng chưa hòan tòan thích ứng với yêu cầu về chủng lọai và số lượng do đặc tính và sự phân bố dân cư của vùng. Ngoài ra với sự phát triển của ngành nông nghiệp thì các sản phầm nông dược cũng có nhu cầu rất lớn
Hiện tại trong vùng có 10 công ty nhập khẩu phân phối dược dược phẩm của các tỉnh, nhưng chỉ có 3 công ty lớn, sản xuất dược phẩm. Cả 3 công ty này đều có doanh số lớn, hiệu quả cao.
4. Công nghiệp nhựa, bao bì, in
Chỉ với 3 nhóm sản phẩm thế mạnh của vùng là lúa gạo, thủy sản, trái cây đã có nhu cầu về bao bì khá lớn. Nhưng nhu cầu cũng không dừng ở đó. Khi dân số gia tăng, đô thị hóa phát triển, khi hàng xuất khẩu phải đáp ứng đòi hỏi khắc khe hơn của nước nhập khẩu, và nhu cầu tiêu dùng bao gói ngày trở nên trở nên đa dạng và cao cấp hơn.
Hiện tại trong vùng có 22 nhà máy sản xuất đồ nhựa và bao bì, nhưng vốn, quy mô và trình độ công nghệ còn thấp. Phần lớn nhu cầu được cung cấp bởi từ các nhà máy ở TP Hồ Chí Minh. Chỉ riêng việc vận chuyển đã làm tăng giá thành của các nhà xuất khẩu, nhưng sự đa dạng cho nhu cầu, đáp ứng những yêu cầu số lượng nhỏ, hoặc đòi hỏi mức độ tinh tế, sự nhạy cãm thì quãng cách xa đó rất khó lòng đáp ứng.
5. Công nghiệp đồ gỗ, hàng mỹ nghệ, quà lưu niệm
Với nguồn nhân lực dồi dào, nhiều diện tích đất ven sông, kênh rạch có thể trồng nhiều loại cây lấy gỗ đảm bảo được chứng chỉ về bảo vệ rừng (FSC) sẽ tạo ra khả năng phát triển ngành sản xuất đồ gỗ, hàng lưu niệm, đồ chơi từ gỗ...phục vụ cho nhu cầu khách du lịch và xuất khẩu
Phát triển ngành này được thúc đẩy bởi chính sách khuyến công, hỗ trợ các làng nghề của các tỉnh. Ngoài ra, chính sự lớn mạnh của đô thị Cần Thơ cùng với các đô thị liên kết trong vùng, sự tăng lên của lượng khách du lịch sẽ thúc đẩy mạnh hơn nhu cầu này.
6. Khách sạn, nhà hàng, công nghiệp du lịch, giải trí
ĐBSCL có nhiều tiềm năng phát triển du lịch dựa trên nền đa dạng và phong phú của đất, nước, sông, biển, con người.
Với địa hình sông nước, nhiều cồn bải, vườn cây ăn trái đặc sản đã phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch trên sông.
Nhưng ĐBSCL còn có bờ biền dài 700km, với nhiều đảo không quá xa bờ, có thể phát triển du lịch trên biển, đảo, và đi đến Mủi Cà Mau – vùng đất liền xa nhất của Việt Nam.
Còn có núi, có rừng tràm, vườn quốc gia, nhiều động vật hoang dã, chim thú quý hiếm,
Và với nguồn thực phẩm dồi dàocủa biển, của sông rất phong phú, da dạng thuận lợi cho việc chế biến, hấp dẫn các du khách.
Đảo Phú Quốc (Kiên Giang) đã được Chính phủ quy hoạch thành đảo du lịch sinh thái. Khi các sân bay Cần Thơ, Phú Quốc hòan thiện, cùng với hạ tầng giao thông trên bộ, trên sông, biển, lượng du khách sẽ tăng vọt.
Nhu cầu về các khách sạn, nhà hàng, resort, khu công viên, giải trí, khu nghỉ dưỡng, các trung tâm mua sắm và các dịch vụ du lịch cũng sẽ tăng theo.
7. Hệ thống phân phối, bán lẻ hàng hóa
Mặc dù chiếm 20% tổng mức bán lẻ hàng hóa của cả nước, nằm trong vùng địa hình bằng phẳng, mật độ dân cư không quá thưa có nhiều cửa khẩu, chợ biên giới, hệ thống phân phối, bán lẻ hàng hóa đi đến tận người dân khá phát triển nhưng thiếu hẳn các trung tâm mua sắm lớn, các siêu thị với hệ thống phân phối hiện đại.
Điều này không chỉ ảnh hưỡng không tốt đến gia tăng sức tiêu thụ, mà còn làm chậm đi tốc độ phát triển của nhiều ngành trong nông, ngư, cũng như họat động của du lịch.
Trong vùng hiện có 3 siêu thị tại Cần Thơ và 4 siêu thị nhỏ ở các tỉnh, chưa thể đáp ứng cho nhu cầu hiện tại, và hòan tòan không thể nói đến nhu cầu phát triển trong tương lai.
8. Giáo dục đào tạo, dạy nghề và chăm sóc sức khỏe
Có đến 65% dân số trong độ tuổi lao động, nhưng phần lớn nằm trong nông nghiệp và đa phần trong số ấy chưa được huấn luyện đào tạo. Đây là nguồn lao động dồi dào cung cấp công nghiệp, cho xuất khẩu. Điều đó đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách, chính quyền địa phương cũng hết sức quan tâm . Và đây cũng là lĩnh vực hết sức hấp dẫn trong nay mai với nhiều nhà đầu tư
Dịch vụ y tế, khám chữa bệnh cho người dân tại địa phương, các bệnh viện chuyên khoa, khu nghỉ dưỡng, săn sóc phục hồi sức khỏe, cho nhu cầu của khách du lịch, nhà đầu tư, người nước ngoài đang rất cần được đầu tư.
9. Công nghệ sinh học, công nghệ cao cho tương lai
Là vùng nông nghiệp lớn nhất nước, với những yêu cầu mới đang đặt ra trong hội nhập quốc tế, nền nông nghiệp của vùng phải cấp bách chuyển đổi. Việc hình thành những khu nông nghiệp công nghệ cao nơi đây là hòan tòan thích hợp.
Với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật ven biển, rừng tràm, rừng ngập mặn, đất ngập nước, lòng biển, đảo, bãi bồi, đất ven sông, cùng với khí hậu, ôn hòa, thời tiết ổn định, hòan tòan thích hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh sinh học và các ngành công nghệ cao.
Trường Đại học Cần Thơ, với nhiều chuyên ngành đào tạo, là trường đại học đa ngành cấp vùng, cùng với hệ thống các trường ĐH ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cửu Long, Kiên Giang sẽ cung cấp đội ngũ các nhà khoa học, các họat động nghiên cứu. Bản thân các trường này cũng có nhu cầu đầu tư, liên kết trong họat động đào tạo và nghiên cứu khóa học.
10. Đầu tư vào ngành giao thông, vận tải, cơ sở hạ tầng
Đường bộ hiện có 40.932 km, so với diện tích rộng gần 40.000km2 của vùng là chỉ số rất thấp. Trong số đó chỉ có 1.799km là đường quốc lộ, 3.385km tỉnh lộ, và 35.748km là hương lộ.
Dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành cơ bản bốn trục dọc chính nối ĐBSCL với Đông Nam bộ, gồm: quôc lộ 1A, tuyến N2, N1, tuyến ven biển và xây dựng tuyến cao tốc TP.HCM - Cần Thơ, làm mới hệ thống đường trên đảo Phú Quốc. Đến 2020 sẽ tiếp tục xây dựng thêm các tuyến đường cao tốc như Đức Hòa, Rạch Giá và hoàn thành tuyến cao tốc TP.HCM - Cần Thơ.
Đường sông có tổng chiều dài hơn 28.000km, trong đó có 13.000km có khả năng khai thác vận tải, đã thực hiện khối lượng vận chuyển 21,5 triệu tấn hàng hóa chiếm 65% tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển của vùng (năm 2002).
Bờ biển nằm trong vùng ĐBSCL dài hơn 700km có vai trò đáng kể trong vận chuyển ven biển, từ đất liền ra đảo và các nước trong khu vực.
Hệ thống cảng cũng được quy hoạch đến năm 2010 sẽ bao gồm một hệ thống cảng Trung tâm tại Cần Thơ và các cảng tổng hợp chuyên dùng ở các tỉnh với tổng công suất từ 9 - 11,5 triệu tấn/năm
Sân bay, từ nay đến 2010 sẽ cải tạo, nâng cấp các cảng hàng không theo hướng thương mại hóa, khai thác thường xuyên bao gồm bốn sân bay Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá và Phú Quốc
Giao thông vận tải hiện đang là vấn đề bất cập ảnh hưỡng đáng kể đến các kế họach phát triển kinh tế của vùng. Vào đầu năm 2005 này, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì một hội nghị quan trọng để bàn về kế họach phát triển mạng lưới giao thông của vùng.
Các số liệu ban đầu đưa ra cho thấy: Để đạt mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng GTVT vùng ĐBSC đến 2010 cần vốn đầu tư lên đến 60.782 tỉ đồng. Trong đó, đường bộ là 53.527 tỉ đồng, đường sông 2.132 tỉ đồng, đường biển 2.414 tỉ đồng và đường hàng không 2.709 tỉ đồng.Số vốn có thể cân đối được từ ngân sách, ODA, trái phiếu Chính phủ, tạm ứng từ nguồn thu phí đầu tư khoảng 40.740 tỉ đồng Số vốn còn thiếu chưa cân đối được trên 20.000 tỉ đồng. Và Chính phủ đưa ra yêu cầu kêu gọi thêm vốn đầu tư từ tư nhân, các nhà đầu tư nước ngòai.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển của vận tài địa phương phân theo vùng (1000 tấn)
| | 1995 | 2000 | 2001 | 2002 |
| Cả nước | 118,020.3 | 177,053 | 188,410.5 | 202,367.2 |
| ĐBsông Hồng | 36,050.8 | 54,699 | 58,496.5 | 63,400.0 |
| Đông Bắc | 12,104.6 | 17,668 | 18,775.2 | 20,211.1 |
| Tây Bắc | 1,598.6 | 2,315 | 2,452.9 | 2,583.6 |
| Bắc Trung Bộ | 12,465.4 | 18,733 | 19,883.9 | 21,180.7 |
| DH Nam Trung Bộ | 10,758.3 | 15,827 | 16,692.4 | 17,774.1 |
| Tây Nguyên | 3,524.0 | 5,137 | 5,385.9 | 5,786.2 |
| Đông Nam Bộ | 21,620.0 | .................................................................................................... Tiềm năng về kinh tế của ĐBSCL...
Ưu thế về địa lý, tự nhiên và nguồn nhân lực...
|