Vị trí địa lý
Đồng bằng sông Cửu Long nằm tiếp giáp với TP Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông (khu vực kinh tế năng động nhất Việt Nam), biên giới với Campuchia, và được bao bọc bởi biển Đông, biển Tây – vịnh Thái Lan.
Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, giữa Nam á, Đông á, Châu Úc và rất gần các nước Đông Nam á như Thái Lan, Singapore, Malaixia, Philippin, Indonesia...
Địa hình:
Đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa hình bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố dày, rất thuận lợi phát triển cả giao thông thủy và bộ. Ngoài ra với bờ biển dài 700km là nhân tố quan trọng để vùng này phát triển kinh tế biển, du lịch, hàng hải và thương mại.
Khí hậu:
ĐBSCL có một nền nhiệt độ cao, ổn định trong toàn vùng, trung bình là 280 C. Chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm 2.226 - 2.709 giờ. Một năm chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4.
Những đặc điểm khí hậu trên đã tạo ra ở ĐBSCL những lợi thế riêng mà các nơi khác khó có được. Đây cũng là nơi ít xảy ra thiên tai do khí hậu đặc biệt là bão.
Nguồn nước:
ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mêkông và nước mưa. Cả hai nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt. Sông Mekông, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, qua Vân Nam – TQ, Mianma, Thái Lan, Lao, Cambodia chảy vào Việt nam bằng hai nhánh, Tiền giang và Hậu giang (Bassac), chiều dài từ biên giới Việt Nam – Campuchia, đến cửa biển là 230km, lượng nước bình quân của sông Mêkông chảy qua nơi đây hơn 460 tỷ m3 ,vận chuyển khoảng 150 - 200 triệu tấn phù sa. Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi bổ lâu dài đã tạo nên Đồng bằng châu thổ phì nhiêu ngày nay.
Biểu đồ dân số và GDP của ĐBSCL so với các vùng trong cả nước năm 2000

Nguồn:Kinh tế Việt Nam đổi mới, Niên giám thống 2001- Tổng cục Thống kê
Nhân lực
ĐBSCL có số dân số đông thứ hai trong 8 vùng, chiếm 21% dân số Việt Nam. Năm 2000, là 16,386 triệu người, năm 2004 là 17,1 triệu người, tốc độ tăng bình quân 2001 - 2004 là 1,08%.
Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 65%, nhưng tỷ lệ lao động có trình độ kỹ thuật còn ở mức thấp: 13,4% (cả nước là 21,2%). 62% lao động làm việc trong nông nghiệp (kể cả ngư nghiệp và lâm nghiệp), 25% trong thương mại và dịch vụ, và 13% trong khu vực công nghiệp. ĐBSCL cũng là nơi cung cấp lao động công nghiệp cho các tỉnh ở Đồng Nai, Bình Dương và Tp Hồ Chí Minh.
Các đơn vị hành chính:
ĐBSCL bao gồm 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc Trung ương
| Đơn vị hành chính | Diện tích (km2) | Dân số trung bình nghìn người | Mật độ dân số (người/km2) | Thủ phủ | Khoảng cách với TP HCM (Km) |
| ĐBSCL | 40,263 | 17,099 | 425 | | |
| TP Cần Thơ | 1,389 | 1,127.1 | 811 | TP Cần Thơ | 169 |
| Long An | 4,993 | 1,407.1 | 282 | Thị xã Tân An | 47 |
| Đồng Tháp | 3,238 | 1,643.7 | 508 | TX Cao Lãnh | 143 |
| An Giang | 3,406 | 2,174.7 | 638 | TP Long Xuyên | 189 |
| Tiền Giang | 2,367 | 1,684.3 | 712 | TP Mỹ Tho | 70 |
| Vĩnh Long | 1,475 | 1,047.2 | 710 | TX Vĩnh Long | 135 |
| Bến Tre | 2,322 | 1,345.6 | 580 | TX Bến Tre | 85 |
| Kiên Giang | 6,269 | 1,632.8 | 260 | TX Rạch Giá | 248 |
| Hậu Giang | 1608 | 776.3 | 483 | TX Vị Thanh | 230 |
| Trà Vinh | 2,215 | 1,015.8 | 459 | TX Trà Vinh | 200 |
| Sóc Trăng | 3,223 | 1,259.8 | 391 | TX Sóc Trăng | 230 |
| Bạc Liêu | 2,547 | 786.4 | 309 | .................................................................................................... |